GIỌT LỆ -Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ (1 of2)

26/11/2013

Trích Tập Truyện Ngắn “Ðường Về Thượng Trí” -Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ

GIỌT LỆ

Hắn ra khỏi quán rượu, say khướt, lảo đảo đi dọc bờ sông về phía nhà thờ. Con sông đang mùa nước lũ chảy cuồn cuộn. Rác rưởi trôi lềnh bềnh đổ xuống đồng bằng. Xác súc vật chết chương phềnh trôi theo trên những mảng rác lớn. Vào những ngày oi bức, mùi hôi ở dòng sông đưa lên nồng nặc. Ðối với hắn chiều nay dòng sông chỉ là con nước chảy, hắn không ngửi thấy mùi gì cả.

Người ta bảo hắn ngoài hai mươi là cùng. Tuổi thật của hắn mới mười bẩy nhưng tóc tai bù xù, đôi mắt đỏ nhừ, với hơi rượu cay xè làm hắn già thêm tuổi đời. Ngực áo đứt cúc để hở một mảng ngực cháy sém vì bong da. Vết da đỏ ửng. Hắn đeo một túi vải xanh rêu. Sợi dây đeo to bằng hai ngón tay, vắt tréo qua cổ. Hắn cặp chiếc túi ở cạnh sườn đi lảo đảo giữa trưa nắng gay gắt. Mấy con chó xô ra cắn. Hắn lượm cục đá lớn bằng nắm tay, ngật ngưỡng ném đàn chó. Nếu con khoang đen đứng yên một chỗ thì hắn đã ném trật, nhưng vì nó cuống quít chạy nên đã lãnh trọn cục đá vào đầu, kêu oang oẳng. Ðàn chó chạy cụp đuôi. Tiếp tục sủa vang xóm mà chẳng con nào dám xô tới cắn. Hắn mệt đừ khi tới cổng nhà thờ. Dưới gốc phượng, hắn lăn ra ngủ lúc nào không hay.

* * *

Bị ông bố trói vào gốc dừa, mỗi lần chiếc roi tre vụt xuống, nó thét lên đau đớn. Sau khi hả cơn giận, ông bê nguyên chậu nước vừa mới rửa bát xong, hãy còn nổi lều bều những miếng mỡ, cọng hành và vữa cơm đổ tạt vào mặt nó. Nó bỏ nhà đi sau trận đòn. Thỉnh thoảng nhớ lại nguyên nhân trận đánh, nó có hối hận đôi chút và cho rằng nó cũng có trách nhiệm lớn trong ngày tình cha con sứt mẻ chứ không riêng gì lỗi ở ông bố nóng tính. Hôm ấy, quá tức giận nó đã đứng giữa sân chửi bố mình là chỉ vì tình dục mà hắn ra đời chứ nó không phải là con ông ta. Ðấy là nguyên nhân đưa đến cái tức mình cùng tột của ông Năm Keo.

Nhưng lí do nó bỏ nhà đi không chỉ đơn giản vì trận đòn bữa đó. Ðâu là nguyên nhân sâu nhất chắc chỉ cuộc đời nó biết. Nhưng nhìn bên ngoài thì lối xóm thấy nó không thể ở chung được với bà dì ghẻ. Sợi giây giữ chân nó ở lại nhà là tình thương của người cha nhưng từ khi ông Năm Keo đi vào con đường cờ bạc, rơi vào hố thẳm hút sách thì nó chỉ là khối thịt thừa trong căn nhà ấy. Nó bỏ học từ hồi lớp Tư. Cũng thời gian này nó đã bỏ nhà đi mấy lần. Tuy nhiên, sau khi tỉnh cơn say, ông Năm lại tìm nó về. Hàng xóm gọi nó là đứa mất dậy. Cái mất dậy và lếu láo của nó theo tỉ lệ thuận với cuộc sống say sưa của ông Năm. Từ ngày ông Năm Keo chỉ la cà ở quán rượu, bỏ bê đứa con mất mẹ quá sớm, đời nó bắt đầu hư hỏng rồi trở thành đứa bé trộm cắp.

Mối thù hằn xã hội người lớn tăng theo tuổi đời trong trái tim của một cậu bé đang tuổi lớn. Ðể tìm một điểm mốc đánh dấu mối thù đời cay nghiệt, nó có thể nói ngay rằng từ ngày bị ông thầy thuốc bắc ở đầu làng, ông lang Ðốc, đổ tội cho nó ăn cắp khế và đánh nó bằng chiếc đòn gánh ngang sống lưng, mà nó tưởng là đã ngã gục. Hôm đó, đang ngồi và bát cơm nguội ở đầu nhà thì ông lang Ðốc sồng sộc đi vào. Ông hằm hằm chỉ chiếc đòn gánh vào mặt nó quát:

- Nói mau, những thằng nào làm gẫy cành khế nhà tao!

Nó riu ríu chẳng hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao mà nó lại mang họa.

- Dạ...cháu...đâu có biết gì!

- Cha tiên sư mày! lại còn chối bai bải hả!

Ông Ðốc đưa đòn gánh lên. Nhìn theo chiếc đòn gánh nó sợ hãi co rúm lại, lắp bắp thưa:

- Dạ cháu đâu có làm gì!

Ông Ðốc giáng thẳng chiếc đòn gánh xuống lưng. Vừa đánh ông vừa quát:

- Này thì mày không làm gì với ông này!

- Nó oằn lưng kêu la, bỏ chạy về phía đống rơm đứng nhìn ông lang hằn học. Con chó vàng sợ hãi lúc thấy ông Ðốc đánh thằng bé nhưng khi chén cơm đổ vãi tung tóe thì nó lấm lét nhìn ông rồi liều thân chạy lại liếm thật lẹ, sợ mất cơ hội may.

Mấy bà đi chợ về ngang qua thấy ông Ðốc lớn tiếng, dừng lại xem chuyện gì. Ông lại giơ chiếc đòn gánh về phía thằng bé tức tối, chửi rủa:

- Quân mất dậy, đồ ăn cắp!

Nó nhìn ông Ðốc căm thù. Không phải vì lời ông Ðốc chửi nhưng vì cú đánh oằn lưng lúc nãy, nó ứ lên ngực mà không làm gì được, liền vạch quần, nhử về phía ông Ðốc:

- Ăn "cái này" của ông này!

Không ngờ thằng bé dám xử với ông như thế. Mấy bà đi chợ ôm mặt cười làm cơn giận ông thêm sôi máu nóng. Ông rút ngay hai chiếc guốc gỗ, chạy lao về phía nó. Vừa ném vừa chửi:

- Cha tiên sư con nhà mất dậy!

Nó lẹ chân, quanh ra sau đống rơm, chạy qua bờ ao, chui qua hàng rào phóng ra ngoài. Từ ngày đó nó thù ông Ðốc tím gan ruột. Không biết ai xấu mồm, đã đổ oan cho nó chứ nó có bao giờ lấy khế nhà ông đâu. Nhưng làm sao minh oan được khi nó chỉ là đứa bé thấp cổ bé miệng. Một đứa bé bị kết tội là "mất dạy". Người ta nhìn nó như con chó ghẻ dơ bẩn. Những gì xấu xa đều trút lên đầu nó. Nhà nào mất của gì, nó cũng là kẻ bị hồ nghi số một.

Mối thù đối với ông Ðốc đã đến ngày được rửa hận. Một thằng trong bọn đề nghị phá dừa nhà ông, nó hí hửng như một sáng kiến tuyệt vời. Công việc xếp đặt cẩn thận. Một đứa đứng ở cổng nhà ông Ðốc giả vờ bắt chuồn chuồn, nếu có ai đi ra phải làm bộ hỏi chuyện để nó náu yên trên cây. Còn thằng nữa đứng phía cuối đường bên kia canh chừng, nếu có ai đi ngược lên, hắng tiếng ra hiệu. Nó biết sứ mạng trèo lên cây là nguy hiểm nhất nhưng vì mối thù với ông Ðốc quá lớn làm nó liều chấp nhận sứ mạng hiểm nghèo ấy. Ðang ra sức bẻ dừa, bất chợt có tiếng la:

- Ông lang ơi có đứa ăn cắp!

Chỉ đợi có thế. Kế hoạch đã sắp xếp sẵn sàng. Cả nhà ông Ðốc chạy ra. Ông cầm con dao phay và sợi giây thừng dắt trâu. Nó bủn rủn chân tay muốn té xuống. Mặt xanh như bị trúng gió, trông không còn hạt máu. Nó đứng mềm như con chó chết. Thằng con trai lớn của ông Ðốc tát nó một cái trời giáng. Gia đình ông đứng vây quanh nó như một tù binh bại trận. Nó biết không còn đường nào thoát thân. Im lặng nghe từng lời ông ra lệnh. Hai tay đưa ra trước. Sợi giây thừng xiết lại. Nó nhăn mặt, cắn răng chịu đựng khi sợi giây siết chặt như muốn nghẽn đường máu chảy. Hai thằng bạn hoan hỉ vì đã chu toàn sứ mạng ông Ðốc thuê. Mỗi đứa nhận mấy đồng và gói táo tầu do ông tưởng thưởng. Chúng khoan khoái vì đã khéo lừa được nó. Dưới gốc mận, hai cánh tay bị trói nhô lên. Sau trận đánh ấy nó mang vết sẹo mà mười mấy năm sau người ta hạch sách nó đủ điều. Vết sẹo như chứng tích nhắc nhở nó về ý nghĩa cuộc sống: Sống là lừa gạt và hận thù!

Sau khi ông Ðốc tha về, mấy tuần lễ sau nó vẫn khập khiễng vì vết thương ở bụng chân. Chán ngán quá, chung quanh chỉ là khinh dể đổ lên đầu. Bài học nó học là cái âm mưu thâm độc của ông đốc đã thuê hai thằng "nhãi ranh". Nó cũng cảm thấy cô đơn cùng cực vì chẳng còn ai để sống. Chính lũ bạn cũng nhìn nó như một thằng bé ngoại lệ. Bài học nó đã học được là lừa gạt, sập bẫy. Cũng từ ngày ấy, nó lớn lên trong những ý nghĩ phải biết đề phòng, phải biết mưu mô, phải biết lừa gạt thêm. Mười bốn tuổi đời, tuổi có giấc mơ của bà tiên áo trắng, có công chúa Bạch Tuyết bẩy chú lùn, tuổi của suối mát róc rách, của vườn bông có bướm bay. Nhưng tuổi mười bốn của nó khác xa, không nằm trong cái mẫu số chung đó. Nó thấy cuộc sống chỉ là đau khổ, bi thương như một bản án. Xã hội người lớn là hình ảnh của cha nó, của bà dì ghẻ, của ông lang Ðốc. Xã hội tuổi thơ là những đứa lừa bạn vì mấy trái táo. Nó cảm thấy tủi thân trong cái giá lạnh, lẻ bóng. Nhiều đêm nó khóc thút thít một mình.

Trước ngày bị ông bố trói vào gốc xoài đánh, nó đã phải trốn chui trốn lủi vì bị người ta lùng bắt. Bà Tám Son nhất quyết là nó đã chặt mất hai luống mía. Từ sau vụ lấy dừa nhà ông Ðốc, nó bị nghi ngờ hơn nữa. Bất cứ ai mất gì cũng tìm nó. Nó như cuốn tự điển của mọi thứ tội trộm cắp. Vụ bà Tám Son bị chặt hai luống mía nào nó có biết gì. Nó không thể biện hộ được cho chính mình. Nó không thể sống được nữa trong cái làng nhỏ mà mọi người luôn luôn rình rập để đổ lên đầu những gánh quá nặng. Một buổi sáng, nó lặng lẽ lên đường bỏ lại tất cả.

* * *

Hắn tỉnh dậy, mặt trời ngả về chiều. Cơn say đã vơi nhưng đầu trĩu nặng. Những cánh phượng đỏ rơi đầy trên cỏ, vương cả lên đầu, lên áo hắn. Cửa nhà thờ mở. Giọng cầu kinh trầm trầm của mấy bà già như lời thống thiết ăn năn. Hắn đứng ở cửa nhìn vào rồi lững thững bước qua ngưỡng cửa gỗ. Hơi lạnh từ tường đá cho hắn cảm giác dễ chịu. Tìm góc vắng yên lặng, hắn ngồi nghỉ. Khung cảnh tĩnh mịch. Giọng cầu kinh của mấy bà già cứ đều đều, rì rầm như lời than thở của kẻ có tội đang nguyện ơn tha thứ. Cơn nhức đầu lại kéo đến, hắn chóng mặt, buồn nôn. Cái sáng suốt lúc mới vào nhà thờ đã rút đi để hắn lại lảo đảo, nửa mê, nửa tỉnh. Một bà già lên tòa giải tội. Hắn cũng lần theo bờ tường đi lên. Miệng xông mùi rượu nồng nặc, qùy vào tòa giải tội, hắn nói huyên thuyên đủ mọi thứ tội. Cha già chúc lành rồi đưa cho hắn chiếc lọ nhỏ bằng thủy tinh trong suốt:

- Việc đền tội của con là đổ đầy nước vào chiếc lọ này!

Hắn bước chậm rãi khỏi tòa giải tội, lụ khụ đi xuống. Người ta thấy hắn đút chiếc lọ nhỏ vào túi vải vẫn đeo ngang cạnh sườn.

* * *

Lùa bày bò vào chuồng. Hắn ra ngồi trên bờ đá, đập quả dưa vào cạnh đá cứng rồi đưa lên miệng cắn. Mấy con bê nhỏ chạy tung tăng trên đám cỏ có những bông hoa dại trắng, nhỏ li ti. Thỉnh thoảng chúng lại hứng chí ngẩng mặt lên trời kêu be be. Ruộng dưa đã đến mùa hái, những trái dưa ưỡn bụng vàng khếnh trong nắng chiều. Dưa bở có thể ăn lúc còn xanh, nhưng lúc còn xanh, mùi vị không có gì đặc biệt. Khi chín, những hạt dưa vàng biến thành nâu sậm. Thịt dưa vàng như màu mỡ gà, nước dưa ngọt lịm, thoang thoảng như mùi mật ong nhưng nhẹ nhàng hơn. Vào mùa dưa chín như hôm nay, cả khu vườn đều thơm phức. Cách vài ba mặt ruộng vẫn ngửi thấy hương dưa. Hắn ngửa mặt lên trời dốc chiếc vỏ dưa như chiếc thuyền cong vào miệng. Nước dưa ngọt từ từ thấm vào vị giác, đi tới đâu đánh thức các tế bào tới đó. Nước dưa ngọt như có chất xúc tác làm những thần kinh ngái ngủ tỉnh dậy. Hắn cảm thấy khoan khoái khi ăn xong trái dưa lớn.

Ông già đầu râu bạc phơ cầm chiếc rổ đi về phía hắn. Thỉnh thoảng ông lại vuốt chòm râu bay vì gió. Ông đã để hắn trú trọ và làm công cho ông từ mấy tháng nay. Nhưng chỉ mới cách đây mấy bữa hắn mới thú thật tất cả quá khứ của hắn cho ông nghe. Hắn cho ông biết là hắn đang bị cảnh sát lùng bắt vì liên can đến những sòng bài và bán thuốc phiện trên thành phố. Tuy nhiên, sau khi thổ lộ cho ông già, ông vẫn để cho hắn ở lại như thường. Ông không hề thay đổi sắc mặt cũng như cách đối xử sau khi đã biết rõ quá khứ bụi đời, giang hồ của hắn. Ðiều ấy làm hắn kính nể ông. Ông đặt chiếc rổ xuống bãi cỏ, hỏi người thanh niên:

- Con có dự tính đi nơi khác không?

Hắn lưỡng lự rồi thay vì trả lời, lại hỏi ông già:

- Cụ có sợ liên lụy không nếu họ tìm thấy con ở đây?

Ông già lắc đầu không nói. Cái lắc đầu thản nhiên, coi thường tất cả những khó khăn nếu có xẩy ra làm hắn nhìn ông như một ân nhân lớn. Bao năm hắn tưởng như tình cảm trong hồn đã chết khô. Tình người chỉ là những lời nói rỗng không. Ðời là tranh giành, dối trá. Cách đối xử của ông già là một ngọn gió nhẹ, lách vào hồn hắn, khua động cái khả năng yêu thương, cái tình thương từ thủa ban đầu trong cõi lòng hắn. Những cọng cỏ yêu thương ấy đã miền miệt nằm im, đã chết cứng, hôm nay, rung rung nhẹ. Ông già nhìn vào mắt hắn hỏi một câu đột ngột:

- Con hãy nói cho ta, gia đình là gì? Sao con lại bỏ đi?

- Con không thể sống được trong gia đình ấy. Vì nơi ấy không có tình thương!

- Thế con có gặp tình thương ở ngoài gia đình?

Hắn trầm ngâm im lặng. Ông già nói thêm:

- Gia đình là tổ ấm con ạ. Kẻ không có gia đình là kẻ cô đơn, lạc loài. Người ta phải tung cánh bay khi đến tuổi lớn nhưng gia đình vẫn là nơi người ta bay về để sưởi ấm cõi hồn. Chỉ có tình gia đình thì cũng không đủ, người ta không thể sống trong gia đình mãi mãi. Người ta phải đi, phải bay, người ta cần tình bạn trong xã hội để sống. Nhưng không có gia đình để bay về người ta vẫn chỉ là một cánh chim mồ côi. Dù bay có xa, dù lên có cao, cánh chim vẫn thiếu thốn, vẫn không trọn vẹn.

- Nhưng gia đình con không là tổ ấm!

- Gia đình không còn tình thương là lúc họ ngưng đối thoại với nhau. Một đêm đông lạnh thì cây củi rất cần thiết nhưng nếu củi không đốt thành lửa thì củi cũng lạnh như gió tuyết mà thôi. Cởi mỡ cõi lòng cho nhau sẽ khơi lên ngọn lửa đó để đốt cháy cành củi. Giá trị của lò sưởi là lửa. Khi những cành củi tự rút khỏi bếp than thì lửa sẽ yếu đi, nhưng cành củi nào vẫn trung thành đặt mình trong bếp lửa thì cành củi vẫn cháy, vẫn ấm, nó vẫn là giá trị mà đêm lạnh đang cần thiết. Nếu nó thấy những cành củi khác đã bỏ lò lửa, nó cũng rút lui theo thì nó đã đánh mất đi sứ mạng nó phải chu toàn, nó cũng sẽ rơi vào đêm lạnh, hoang vu.

Hắn buồn trầm nét mặt. Trong cái tịnh mịch của buổi chiều, hắn thấy cánh rừng mang màu tang tóc li biệt. Hồn hắn chùng xuống như một tơ đàn ẩm mốc. Có mất mát về trong hồn hồi tưởng. Ông già im lặng một chút rồi lại nói với hắn:

- Những người không biết xây dựng tình yêu trong gia đình thì họ cũng chẳng biết đến tình yêu ngoài xã hội. Họ không thể hi sinh được cho nhau trong cùng một tổ ấm thì làm sao họ có thể chịu thiệt thòi ở ngoài cánh đồng?

Những kẻ đã bỏ gia đình, chối từ xây đắp yêu thương trong gia đình, khi họ gặp nhau ngoài xã hội, họ sẽ đem đến cho nhau những sứt mẻ. Tàn bạo là con đường chiến thắng.

Con đã kể cho ta nghe chuyện đời con. Xã hội là cái thâm độc của ông lang Ðốc, là khuôn mặt nghi ngờ của bà Tám Son, là phản bội vì lợi lộc của lũ bạn. Là người cha say khướt, người mẹ ghẻ không trách nhiệm.

Lằn roi của ông lang Ðốc là niềm vui thỏa mãn của mối trả thù. Nó diễn tả một hố vắng nào đó trong hồn ông. Cái nghi ngờ của bà Tám Son không có xót thương cũng chỉ là lời phiên dịch một nội tâm không có đất sống. Tình bằng hữu của mấy đứa bạn không lớn hơn trái táo tầu là kết quả của một mùa giáo dục bị sâu phá. Tất cả là hình thức một khoảng trống trong tâm hồn. Bằng ấy năm trôi giạt con vẫn chưa nhận ra là chính họ cũng đã lớn lên trong gia đình thiếu bóng nhân ái sao? Họ đã qua tuổi thơ mà yêu thương chỉ là bóng mây bay ngang trời. Họ đã qua một khoảng trống.

Ông già đặt tay lên vai hắn tiếp tục:

- Cuộc đời bất hạnh vì những khoảng trống con ạ. Thí dụ như con đang ngồi đây. Vợ chồng cô đơn vì những cách biệt. Tội nhân cô đơn vì bị ruồng bắt. Kẻ yếu đuối cô đơn vì bị miệt thị. Nghệ sĩ cô đơn vì phải sáng tác theo thị hiếu của khách hàng. Con ạ, tất cả các trạng thái bất hạnh trong cuộc đời là hình thức của những khoảng trống trong tâm hồn.

Hắn nhìn lên ông già hỏi:

- Như vậy con phải làm gì?

- Con phải biết rõ mình, rõ đời. Con phải quên đời, quên mình.

Hắn chẳng hiểu ông già nói gì, nhưng ngần ngại không dám hỏi. Ông già biết tâm trạng ấy, nhìn gã, ông nói thêm:

- Con phải biết rõ mình để hòa đồng với đời. Con phải biết rõ đời để khỏi bị đời đồng hóa. Không biết mình và biết đời con sẽ rơi vào khoảng trống. Từ khoảng trống ấy cô đơn sẽ nẩy sinh. Nó là trạng thái con người đánh mất đi cái bản ngã đích thực của mình. Họ muốn trở nên cái mà họ không có thể, họ xao xuyến bất an. Họ để xã hội biến con người của họ trở thành cái mà họ không được phép trở thành, vì thế, họ khắc khoải ưu tư. Cả hai, muốn trở nên điều ngoài tầm mình với và đánh mất cái mình phải trở nên đều đưa con người đến những mảnh đời hụt hẫng. Cái hụt hẫng ấy là nỗi cô đơn tàn phá lớn nhất, con ạ. Và tàn ác nẩy sinh.

Con cũng phải quên đời và quên mình. Ðời không luôn luôn gọi con đến những chân trời hạnh phúc. Chính con cũng lừa dối con ngày ngày. Trước những tiếng gọi mà nhiều khi vô cùng mãnh liệt ấy con phải có can đảm chối từ. Quên mình và quên đời chỉ là một hình thức của biết mình và biết đời mà thôi. Ðơn giản, nhưng tất cả hạnh phúc cũng như thương đau trong thảm kịch cuộc sống hệ tại có thế.

Mấy chú bê nhỏ đã vào chuồng với mẹ. Hình ảnh ấy làm chàng nhớ đến một mái ấm thương yêu mà chàng đã mất. Con bò mẹ lấy mõm hẩy hẩy trên lưng chú bê nhỏ gợi lên trong hồn chàng một tình cảm nhẹ nhàng, êm đềm mà chàng ngỡ rằng chàng không bao giờ có thể có được rung cảm ấy. Ông già cúi xuống lượm chiếc rổ với mớ rau cải còn xanh. Hắn ngồi trầm tư vì những lời nói của ông, thao thức như cánh buồm vải đi trên biển lặng của nhớ nhung hồi cảm. Ông già cầm mớ rau cải giũ đất rồi bảo hắn vào ăn cơm chiều. Mặt trời vừa mới le lói mà giờ đã lặn xuống sâu dưới chân đồi. Trời đang sửa soạn vào đêm. Vừa đi, ông già vừa nói cho hắn nghe.

- Tất cả hệ tại con tim. Gia đình ở trong tim ta. Mất tình yêu ấy thì dù ở trong gia đình cũng chẳng gặp gia đình. Còn tình yêu đó thì dù cách trở núi sông ta vẫn còn gia đình bên cạnh.

Ông đốt cây đèn bão. Hai người ngồi trước chiếc bàn gỗ bắt đầu bữa cơm tối.

RA ÐI - MỘT NĂM SAU

Ngồi một mình trong quán rượu. Quán hết khách. Hắn đếm đốt ngón tay nhẩm lại quãng đời đã qua. Không ngờ thế mà đã hơn một năm trời từ giã ông già và khu vườn rồi. Ðời sống với âm mưu cuốn hắn chảy xiết như như dòng sông nước lũ. Ðôi khi nhớ lại lời nói của ông già, hắn cho là không thực tế, nhưng hắn cũng không phản đối. Có điều lời ấy đã làm hắn trằn trọc vào những đêm buồn bã, trống vắng. Vào những ngày thinh lặng, lời nói ấy mơ hồ gõ trên cánh cửa gỗ tâm hồn đầy đặc bụi mốc, chai lì. Giữa phố chợ bốc khói cay xè của rượu bia, phấn hương đàn bà, của cảnh sát, thì lời của ông già thành lạc lõng trơ trọi.

Từ chiều đền giờ, hắn đã quay quắt suy tư nhưng không thể nguôi ngoai một câu hỏi: Giết hay không? Rồi dằn vặt với bóng hình: Tiền? Tử hình? Vượt ngục? Tất cả dụng cụ đã sẵn sàng. Giản gọn, chỉ cần chiếc bao vải và cây gậy nhọn bọc sắt ở đầu. Hắn nâng li rượu, nốc cạn như một phát thuốc an thần rồi đi về phía ngõ hẻm.

Ðêm nay không phải là đêm thứ nhất hắn rình ở đây. Hắn đã vất vả theo dõi từ nửa tháng nay, tìm đường đề phòng, tính toán kế hoạch. Hắn đã có trong đầu một kế hoạch rất chi tiết, tỉ mỉ. Hắn đã học thuộc lòng như một cậu bé trước giờ thi. Hắn đứng đó ôn lại toàn thể kế hoạch. Trong giai đoạn một, nếu mọi sự xẩy ra theo như dự tính của kế hoạch A thì sẽ tiến sang giai đoạn hai. Nếu vì trục trặc mà rơi vào kế hoạch B thì phải làm như thế nào. Hắn nhớ lại từng chi tiết. Nếu giai đoạn đầu trôi qua thì giai đoạn hai sẽ vào theo lối cửa nào. Ưu tiên một là lục lọi nơi đâu. Tất cả đã rõ ràng, có lớp lang thứ tự. Sau khi ôn lại tổng kết tất cả kế hoạch, hắn ném viên đá bằng đầu ngón chân về phía chuồng gà. Bầy gà kêu nhớn nhác. Hai tay hắn nắm chặt chiếc đòn xóc nhọn đầu. Chờ đợi. Dự tính đã không xẩy ra như kế hoạch A. Có thể phải dùng kế hoạch B chăng? Nhưng hắn kiên nhẫn đợi chờ. Một quãng trống im lặng trôi qua. Một lần nữa, hắn lại ném viên sỏi về phía chuồng gà. Bầy gà kêu nhớn nhác. Hai tay nắm chặt cây gậy để sẵn sàng đối phó. Im lặng. Không có dấu hiệu nào xẩy ra theo kế hoạch A. Hắn bực bội vì mới khởi đầu giai đoạn một đã bị trục trặc. Hắn định bước tới cửa sổ như kế hoạch B nhưng hắn lại ngần ngừ vì kế hoạch A gọn gàng hơn. Tiếc nuối, hắn đứng tần ngần. Lần này hắn lượm một nửa hòn gạch ném hết sức về phía chuồng gà. Miếng gạch bay trên mái tôn làm bầy gà hoảng hốt kêu oang oác, bay tứ tung tìm đường chạy. Có bóng người ở cửa sổ. Hắn đứng đợi. Một thoáng trôi qua. Người đàn bà xách chiếc đèn bão. Hắn đứng sát vào góc nhà vệ sinh. Giai đoạn một của kế hoạch A bắt đầu vén màn. Hắn đã biết rõ, bà luôn luôn soi gà bằng cây đèn bão. Hắn đã thử nghiệm nhiều lần và biết chắc rằng khi giơ cây đèn bão lên cao trước mặt thì ánh đèn sẽ hắt lại làm người xách đèn chỉ nhìn thấy một khoảng rộng ngay trước mặt mà thôi, không thể nhìn xa. Chuồng gà. Trời tối đen, chỉ có khoảng nhỏ của cây đèn bão dập dờn. Gió thổi làm ánh đèn lao chao, càng thuận tiện cho hắn. Hắn nhún người xuống để tìm một thế đứng vững chắc. Ðầu tựa sát vào bờ tường. Tay nắm chặt chiếc gậy nhọn đưa về phía sau để lấy trớn phóng tới. Người đàn bà không hề nghi ngờ gì. Dáng điệu thản nhiên bà giơ cao chiếc đèn hơn nữa để nhìn cho rõ trên khúc đường gồ ghề những đá mới trải. Thỉnh thoảng bà phải nheo mắt, dừng lại cho ngọn đèn sáng rõ để nhìn kĩ lối đi. Giây phút định mệnh đã điểm. Trời tối âm ấm nóng. Cái nóng ngột ngạt của khu hẻm thành phố với khói xe. Mồ hôi trên trán đã rịn. Người hắn nóng bừng. Tay run run ngượng ngập. Hắn không ngờ để giết một người cũng không phải là dễ. Người đàn bà càng đến gần thì hắn càng bối rối, kế hoạch như mù mờ phai nhạt mất rồi. Hắn không hoàn toàn làm chủ được tất cả. Khi ánh đèn đã có thể soi tới chỗ hắn đứng thì mồ hôi chảy ướt thành giọt lăn trên mặt. Hắn run rẩy lấy hết sức phóng tới, bước chân rối rít. Khi người đàn bà có thể nhìn thấy hắn và hắn đã bắt gặp đôi mắt người đàn bà nhìn mình thì hắn không còn tâm trí gì nữa. Tất cả chỉ còn chiếc gậy nhọn. Cây gậy lao vút đi như một mũi tên xé gió. chiếc đèn bảo văng xuống đất, tắt ngúm. Người đàn bà không kịp kêu một tiếng ú ớ. Chỉ có một khối thịt ngã xuống. Mũi cây nhọn đã đâm xước từ bụng ngược lên. Nhanh như cắt, hắn dùng tay phải bẻ vật ngược chuôi cán về phía kia. Ðầu nhọn rút ra khỏi ngực, máu vọt như một vòi nước. Khi người đàn bà vừa ngã xuống thì chiếc gậy cũng vừa đưa nằm ngang cuống họng. Hắn đè cây gậy tàn bạo không xót thương. Không tiếng kêu. Người đàn bà trợn mắt, lè lưỡi dài. Run run. Im.

Nửa tiếng đồng hồ sau, người ta nhìn thấy một gã đàn ông xách chiếc túi vải nặng đi về phía cuối hẻm.

Xem tiếp phần 2 of 2

Tin khác

5 phút Lời Chúa mỗi ngày