ÐƯỜNG LÊN NÚI CAO​ -Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ (3 of 3)

26/11/2013

* * *

Trở lại phần 2/3

Người tráng sĩ cỡi con bạch mã vừa mới tới mặc chiếc áo khoác nâu. Khi người tráng sĩ đứng trước mặt ông già gác cổng chàng dũng sĩ áo xanh mới thấy rõ chiếc áo nâu của người tráng sĩ kia đã phai mầu, tay áo đã bạc phếch, gấu áo rách tua tủa. Nước da của chàng sạm nắng mặt trời. Khuôn mặt cũng rắn đầy nghị lực phi thường. Trên bờ vai phía sau, áo rách một khoảng để lộ ra vết thương còn trầy da như bị té ngựa. Cánh tay cũng có vết máu. Trên trán, vết thương cũng chưa lành hẳn.

Nghe ông già nói. Tráng sĩ rút thanh gươm đưa ra trước mặt ông già. Chàng dũng sĩ áo xanh thấy thanh gươm của người tráng sĩ nọ đã bị sứt mẻ. Ðầu gươm bị gẫy. Thanh gươm mang nhiều vết loang lổ của đất cát, có những vết đen như nhựa thông khô. Chiếc chuôi gươm cũng rạn nứt. Dấu tích của một thời giao tranh ác liệt. Lúc người tráng sĩ tra thanh gươm vào vỏ, chàng dũng sĩ mới để ý đến chiếc bao, nó đã bị đập vỡ để lộ nguyên một khoảng gươm dài ra ngoài. Chàng tráng sĩ áo nâu đứng nghiêm như tác phong của một sĩ quan trong quân kỉ. Ông già lại nói điều gì đó. Chàng tráng sĩ giơ hai bàn tay ra trước mặt ông. Bây giờ chàng dũng sĩ áo xanh mới thấy hai tay sưng vù, tím bầm. Lòng bàn tay tím đỏ, nát dập như bị hai vết chém đâm qua. Những ngón tay sưng húp làm chàng dũng sĩ chỉ nhìn thôi mà cũng có cảm tưởng đau nhức. Chàng rùng mình vì không hiểu đôi tay sưng như thế thì làm sao mà người tráng sĩ có thể cầm cương ngựa được suốt cuộc hành trình dài.

Cánh cửa mở rộng. Con bạch mã hí lên sung sướng. Tiếng hí vang động khắp núi đồi, rồi nó chồm vó phóng vút vào phía trước mặt.

Có tiếng kèn trổi lên và như có những cung nhạc rất lạ. Máu trong tim chàng đổ dồn dập. Dập dìu đó đây nghe như xôn xao. Núi đồi cũng như say trong mật ong rừng. Chàng có linh cảm rằng ở rất gần đây đang có vũ tiệc. Có ánh sáng và hoa, có trầm hương và những li rượu nạm vàng. Có bình yên vô tận. Có nắng hồng rải hạnh phúc. Có gió hiền đong đưa từng giải lụa, từng tơ vàng óng ả. Chàng hồi hộp quá đỗi cho một chờ mong sắp bắt gặp.

Bây giờ đến lượt chàng dũng sĩ áo xanh. Ông già cũng bảo chàng giơ thanh gươm như chàng tráng sĩ áo nâu lúc nẫy đã làm. Thanh gươm của chàng tuy cũng có vết tích giao chiến nhưng vẫn mới, lấp lánh như một thỏi bạc.

Ông lại bảo chàng giơ tay. Ðôi tay đẹp như tay của tiểu thư chỉ biết đến sách vở chứ không bao giờ phải cày sâu cuốc bẫm. Trên ngón tay áp út có chiếc nhẫn vàng rất xinh. Ông già không nói nhưng từ từ như có mây sương phủ, bóng ông mờ phai dần. Chàng hốt hoảng gọi. Màn sương lại loãng tan và hình ông già lại hiện ra rõ ràng như trước. Chàng linh cảm như sắp có điều gì chẳng lành xẩy đến. Chàng nói với ông:

- Dạ thưa ngài xin để tôi đi qua cổng Ðịnh Mệnh này.

Ông già lắc đầu bảo chàng:

- Không ai được vào nơi đây nếu không phải là kẻ được Thượng Ðế chọn.

- Tôi đã được gọi và tôi đã bỏ tất cả để tìm lên đây.

- Nhưng ta không thấy dấu hiệu nào bảo cho ta biết ngươi là kẻ thuộc về khu vườn hạnh phúc này.

Chàng dũng sĩ rút trong túi áo ra một cây thánh giá bằng vàng ròng. Ðấy là cây thánh giá đi sản từ ba, bốn đời truyền lại. Ông già từ chối:

- Không phải thập giá là dấu hiệu của vương quốc Kitô. Không phải ai có thập giá là được vào đây.

- Vậy dấu hiệu của kẻ được chọn là gì?

Ông già lại bảo chàng giơ bàn tay ra. Tay chàng trắng trẻo dễ thương. Chiếc nhẫn trên ngón áp út làm bàn tay chàng càng thơ mộng và có mầu lãng mạn nữa.

Ông già lắc đầu từ chối:

Dấu của kẻ được chọn là có thương tích vì cùng chịu đóng đinh với Ngài. Vết đinh chứ không phải đinh, vết thương thập giá chứ không phải thập giá.

Nói xong ông già biến mất. Chiếc đèn đã bị thổi tắt. Bóng tối nghẽn đường ước mơ. Khi ông già mất dạng thì chung quanh chàng hoang vắng khô cằn. Không còn chim hót thảnh thơi. Chàng khát nước, mong một li nước trong cơn mệt nhưng tiếng róc rách của con suối thì ở quá sâu. Ðất đá gồ ghề, những con đường sỏi trắng không còn nữa. Mùi ngai ngái của đất ẩm, mùi hăng hắc của nấm rừng làm chàng khó chịu. Cả khu rừng chỉ phất phơ vài bông hoa dại lẻ loi. Chàng lên đường. Lá ở đây mục nát, những con bọ đen bò lầm lũi trên đống rác mục. Cô đơn về trong tim. Chàng muốn gọi nhưng chỉ có mình chàng, chẳng có ai để tìm một chút ủi an. Chung quanh là vắng vẻ mênh mông. Mất. Lạc lối. Người dũng sĩ không còn nhận ra đây là đâu nữa. Cái hoang dại mà chàng phải đối diện không phải là vắng bóng người, vì bao năm nay chàng đã rong ruổi một mình. Hoang dại bây giờ lại tuyệt vọng, nó mở ra như một hố thẳm không đáy. Sự hoang dại của con tim trở thành đối thủ với chính mình. Không còn ai để mà than trách thì than trách chỉ là cay nghiệt với mình. Chàng muốn đâm thanh gươm vào ngực nhưng không đủ can đảm. Chàng muốn chẻ thanh gươm vào mặt nhưng không đủ can đảm. Và chính cái nhát đảm ấy cũng là một cay đắng. Chàng muốn oán trách nhưng oán trách ai, vì có ai ở đây đâu. Chàng muốn gọi một lời nhưng gọi về đâu. Tất cả chỉ là hoang vu. Chàng hiểu hỏa ngục chính là nơi mình đay nghiến mình, nơi biết mình vĩnh viễn là kẻ thù của chính mình.

Trên khu đồi khô cằn, vất vưởng một bóng người lạc lõng.

(Tôi muốn kết câu chuyện ở đây. Mỗi người có thể tự tìm cho mình một lối kết khác, nhẹ nhàng hơn? Nếu lối kết trên đây bi đát thì tôi có thể mở ra một lối ngõ như sau)

Con ngựa đã già. Chàng dũng sĩ ngồi đau khổ trên gò đất mối. Thất vọng nghẽn lối như ngập khói dầy đặc trong hồn. Ðưa tay vuốt ngực. Khó thở. Cô độc. Chàng lững thững đi về phía có tiếng róc rách. Dòng suối ở vực sâu, oan kiên. Chiếc nhẫn trên ngón tay chỉ dầy vò cho oan trái càng thêm khổ sở. Chàng tháo chiếc nhẫn vàng xinh, đưa lên nhìn lần cuối rồi thả xuống vực sâu. Một âm thanh nhỏ vang lên khi chiếc nhẫn chạm mặt nước.

Từ âm thanh nhỏ trong dòng suối có tiếng vọng trong hồn bảo chàng nhìn lên đồi:

- Mùa gặt ở đàng trước mặt.

- Khi nào thì tôi có mùa gặt?

- Khi tay người nông phu sưng lên vì lao tác.

Ðiệp khúc ấy mơ hồ cho chàng một hi vọng mong manh. Ngước lên, chàng thấy ngọn núi không còn xa. Nhưng còn gì nữa đâu mà cố gắng? Cửa đã đóng? Chàng nhìn bàn tay phân vân. Lại ngó lên núi cao. Ðường nào đi mãi rồi cũng đến nơi? Sông nào chảy mãi rồi cũng ra biển? Nhưng làm sao lên được núi cao.

- Hãy trung thành như sóng vỗ! Hãy bền bỉ như thủy triều!

Ði nữa sao? Chàng nhớ về bài học của biển. Gian nan? Chàng nhớ đến bài học của gai, và đôi hoa tai của người thiếu nữ. Nhan sắc và vết thương của gai không thể tách rời. Chàng lại nhìn bàn tay trắng trẻo. Nghĩ ngợi vô chừng.

- Dấu của kẻ được chọn là thương tích của đinh chứ không phải đinh, là thương tích của thập giá chứ không phải thập giá.

Lời của ông già đã xác định. Bấy giờ chàng nghe như chàng đã tránh né nhiều lần trong đời chàng. Chàng lên đường nhưng tâm hồn chưa trọn vẹn siêu thoát. Bàn tay chàng vẫn chưa có dấu vết của lao tác nhọc nhằn. Chàng nhận thức một điều kiện tàn khốc là phải chấp nhận đớn đau như người thiếu nữ muốn có nhan sắc phải chấp nhận cành gai. Ðến lúc đó chàng mới nhìn ra con người thật của chàng. Chàng đã ca ngợi khổ đau bằng văn chương chứ không phải bằng cuộc sống niềm tin. Chàng đã viết những bài thơ ca ngợi đồi máu với thập tự cho đời mà lãng quên chính mình. Rong ruổi tìm ngọn suối của chàng sẽ mãi mãi là ảo tưởng cho đến khi chàng nắm chặt những mũi gai nhọn trong tay.

Những ý tưởng trên vừa làm chàng xót xa nhưng cũng cho chàng hơi ấm. Chàng biết vẫn còn hi vọng ở phía xa. Hi vọng nằm ở cành gai nhọn chứ không phải chỉ ở trong ước mơ. Mơ ước chỉ là khởi điểm. Tim chàng ấm dần, máu chàng đỏ dần mầu náu nóng. Chàng nhìn rõ chứ không còn mơ hồ. Chàng không còn lựa chọn nào khác. Chàng không còn tránh né nào khác. Ðường lên núi cao là đường không nhượng bộ. Tuyệt đối không có nhượng bộ. Tuyệt đối không có thay thế. Những suy tư về tuyệt đối dứt khoát ấy đẩy chàng đến một quyết định sau cùng. Chàng nhìn lên ngọn núi, mơ hồ thấy những ngọn than hồng từ từ rực sáng rồi thành biển lửa cháy bùng dữ dội. Nhưng biển lửa ấy chỉ cháy bùng khi chàng lao mình đi tới với tất cả thương đau, gian nan. Nhìn biển lửa của thách đố mời gọi, chàng xốc ngựa, che giấu nỗi đau, thúc ngựa lên đường.

Ði chưa được nửa ngày thì đường trở nên gồ ghề toàn đá nhọn. Chàng phải xuống dắt ngựa theo. Lần đầu mới xuống khỏi ngựa chàng đã trượt chân té ngã, ê ẩm cả đầu gối. Trèo qua được một quãng thì bàn tay chàng đã xước da vì phải bám chặt vào đá mà bò. Chân chàng rớm máu. Giờ gian nan đã điểm. Một con suối sâu hoắm trước mặt. Con ngựa già không thể vượt qua được nữa. Người dũng sĩ thương con tuấn mã đến ứa lệ. Chàng phải từ giã con tuấn mã. Chàng phải dẫm lên đá nhọn mà đi. Ðến ôm con ngựa lần cuối. Chàng thấy như xé ruột gan khi phải dứt lìa một thân mến sau cùng. Chàng nhìn con ngựa lần cuối, giơ tay vẫy chào vĩnh viễn rồi tìm theo lối đi nhỏ dẫn xuống vực sâu. Nước ở bên dưới chảy như thác lũ. Thấy một chỗ an toàn nhất, chàng lấy hết sức mình nhẩy qua. Bờ đá vỡ lở rơi xuống ầm ầm. Toàn thân chàng lơ lửng trên không. Bờ bên kia chưa tới. Chàng kinh hoàng rụng rời khi biết mình không thể đặt chân được lên bờ bên kia. Vực đá sâu thẳm. Chàng hét lên sợ hãi, đập mạnh tay bám vào gốc tre già đã bị chặt cụt nhọn hoắt. Một mũi đâm ngọt lịm, gốc tre sắc như dao đâm xiên qua lòng bàn tay treo chàng lơ lửng giữa bờ đá. Toàn thân run lên vì đau đớn, sợ hãi. Mồ hôi và máu chảy đầm đìa. Sức nặng của toàn thân xé rách dần bàn tay. Máu chảy dốc theo cánh tay. Nhưng nếu không có gốc tre xuyên qua bàn tay để giữ lại, chàng đã rơi xuống vực sâu nát bấy. Ðôi chân co quắp giữ lấy bờ đá. Khi chàng leo lên được thì bàn tay như toạc ra. Chàng không còn bước vững nữa. Lảo đảo cố té. Còn lại bàn tay duy nhất vội giơ ra chống đỡ. Chồng đá rung động sập xuống, máu chảy chan hòa nhuộm đỏ một vùng đá cứng. Con ngựa hí lên đau thương nhìn chủ nó thân yêu gục chết.

Khi có điệu nhạc vô thường trổi lên thì Vườn Hạnh Phúc biết là sắp có một dũng sĩ đến. Cả Vườn Hạnh Phúc xôn xao chờ đón. Chàng tráng sĩ áo nâu nheo mắt nhìn và chàng nhận ra ngay vị dũng sĩ đang đến trong tiếng đàn sáo hoan ca tưng bừng là người đã từng bị từ chối ở cổng thành.

Lời suy tư:

Ðường lên núi cao của Phaolô:

Những điều gì bất cứ người ta dám làm, thì, thật tôi nói như nổi khùng, tôi cũng dám làm. Họ là người Hippri ư? Tôi cũng thế! Họ là người Israel ư? Tôi cũng thế! Họ là dòng giống Abraham ư? Tôi cũng thế! Họ là tôi tớ Ðức Kitô ư? Tôi nói rất mực điên khùng là tôi còn hơn gấp mấy! Hơn nhiều bởi công lao, hơn nhiều bởi tù rạc, đòn vọt, lắm lần hầu đã vong mạng. Năm lần tôi bị người Do Thái đánh đòn ba mươi chín trượng, ba lần tôi bị tra tấn, một lần tôi bị ném đá, ba lần tôi đã đắm tầu, và đã qua một ngày một đêm chơi vơi trong lòng biển. Tôi chịu nguy hiểm vì sông ngòi, nguy hiểm vì trộm cướp, nguy hiểm vì người đồng chủng, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm nơi thành thị, nguy hiểm chốn hoang vu, nguy hiểm trên biển cả, nguy hiểm nơi những anh em giả. Lao đao vất vả bởi thao thức thường bữa, bởi đói khát, bởi nhịn ăn lắm bận, bởi lạnh rét, bởi mình trần (2 Cor. 11:22-27).

Ðường lên núi cao của người thanh niên:

- Thưa Thầy tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?

- Nếu ngươi muốn nên trọn lành, thì hãy đi bán hết những gì ngươi có mà cho người nghèo, ngươi sẽ được kho tàng trên trời, đoạn hãy đến theo Ta. Nghe lời đó người thanh niên cúi mặt bỏ đi buồn rầu (Mt. 19:23-24).

Lời cuối

* Chuyện chỉ là tưởng tượng. Nhưng đường về cõi vĩnh hằng là có thật. Kẻ được chọn sẽ là người mang thương tích của thập giá chứ không phải kẻ chỉ ca ngợi thập giá, điều ấy có thật. Mặt trời và biển là điều có thật. Gai và đau khổ là điều có thật. Ðơn độc trong mưa là điều có thật. Gian nan để theo đuổi lí tưởng là điều có thật. Trong những điều có thật này, Phaolô bảo rằng ông không quản ngại gian nan, vì "gian nan trong hiện tại gây nên cho ông đời đời một khối vinh quang siêu vời tuyệt đỉnh, miễn sao đừng dán mắt vào những điều trông thấy được, vì hữu hình là phù vân, vô hình mới trường cửu" (2 Cor. 4:16-18).

* Nếu những điều trông thấy là phù vân, vô hình mới trường cửu, thì, có phải những gì vô hình trong tưởng tượng cũng chưa chắc là tưởng tượng phù vân?

Tin khác

5 phút Lời Chúa mỗi ngày